Hiển thị các bài đăng có nhãn nhung dieu can biet. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn nhung dieu can biet. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 9 tháng 5, 2014

Sự thật về quá trình "luyện linh đan, hút máu" để trường sinh của người xưa

Sự thật về quá trình "luyện linh đan, hút máu" để trường sinh của người xưa - Với sự phát triển của khoa học, liệu có một ngày con người có thể bất tử hay “cải lão hoàn đồng”…

Bất tử hay "cải lão hoàn đồng" là khao khát của rất nhiều thế hệ kể từ khi xã hội loài người hình thành và phát triển. Tuy nhiên, cho tới nay, đó vẫn chỉ là một ước mơ, một nỗi ám ảnh chưa lời giải đáp. 

Hãy cùng ngược dòng lịch sử hành trình tìm kiếm bí kíp “cải lão hoàn đồng” và tìm hiểu xem liệu rằng trong một ngày không xa, con người liệu có thể tìm ra phương pháp kỳ bí này.

Từ linh đan của người Trung Quốc cổ đại

Từ xa xưa, người Trung Hoa cổ đã thể hiện niềm khao khát mãi mãi tươi trẻ thông qua thuật luyện đan của Đạo giáo.
Thời Chiến Quốc (476 - 221 TCN), một số người đã bắt đầu vận dụng kĩ thuật luyện kim vào việc luyện chế khoáng dược vật thành tiên đan - thứ thuốc được cho rằng có thể giúp con người trường sinh bất lão.

Tới thời nhà Hán (202 TCN - 220), những người này tiếp thu tư tưởng của Đạo giáo, trở thành các đạo sĩ chuyên luyện đan trường sinh. Ngụy Bá Dương được coi là người đi đầu trong thuật này và là tác giả cuốn “Chu Dịch tham đồng kế”.

Chân dung Thái Thượng Lão Quân - vị thần coi sóc việc luyện linh đan trên trời.
Hình ảnh Tôn Ngộ Không ăn trộm linh đan của Thái Thượng Lão Quân, sau đó thoát khỏi lò bát quái nổi tiếng trong văn học Trung Hoa.
Trải qua thời kì phong kiến, hình ảnh các hoàng đế Trung Hoa luyện linh đan để có thể “cải lão hoàn đồng”, thọ ngang trời đất trở nên vô cùng phổ biến trong nền văn hóa quốc gia này.

Tuy nhiên, có lẽ đây sẽ mãi là một mơ ước không tưởng, bởi các nhà khoa học phát hiện ra rằng: thành phần luyện đan từng được sử dụng có lưu huỳnh và diêm tiêu - những chất cực độc cho sức khỏe con người.

… hay “suối nguồn tươi trẻ” của người châu Âu…

Nếu như người Trung Quốc và phương Đông tin rằng, việc tu luyện và sử dụng “linh đan” có thể giúp họ giữ mãi tuổi thanh xuân thì ở phương Tây, người châu Âu cổ đã không ít lần đi tìm địa danh huyền thoại “suối nguồn tươi trẻ”.
Tranh vẽ "suối nguồn tươi trẻ".
Người được cho là tiên phong trong hành trình đi tìm “suối nguồn tươi trẻ” là Alexander Đại đế. Nhiều tài liệu lịch sử chép lại rằng, trước khi qua đời khoảng năm 323 TCN, vị hoàng đế tài năng này đã đi tìm một con sông có thể chữa lành sự tàn phá của tuổi tác. 

Tới thế kỷ XII, một vị vua tên Prester John được cho là người cai trị trên mảnh đất có một dòng sông vàng và một dòng suối có khả năng “cải lão hoàn đồng”.
"Suối nguồn tươi trẻ" luôn là tâm điểm trong những tấm hải đồ cướp biển xưa kia.
Nổi tiếng nhất với hành trình truy tìm “suối nguồn tươi trẻ” là nhà thám hiểm Tây Ban Nha - Juan Ponce de Leon (1474 - 1521). Ông được cho là người khai phá vùng đất trở thành tiểu bang Florida hiện nay trong chuyến hành trình tìm kiếm "suối nguồn tươi trẻ" khoảng năm 1513.
Chân dung Juan Ponce de Leon - nhà thám hiểm gắn liền tên tuổi với hành trình đi tìm "suối nguồn tươi trẻ".
Nhưng có lẽ tới nay, suối nguồn tươi trẻ vẫn mãi chỉ là dòng suối trong tâm tưởng mà thôi.
Những câu chuyện về Juan Ponce de Leon đi tìm sự bất tử chỉ nổi lên sau khi ông qua đời, điều đó cũng đồng nghĩa với việc Juan Ponce de Leon chưa bao giờ tìm thấy cội nguồn này. Bởi vậy cho tới ngày nay, dòng suối giúp con người hồi sinh tuổi tác vẫn chỉ là một huyền thoại không căn cứ.

… thậm chí là bí kíp hút máu của ma cà rồng

Ma cà rồng là một nhân vật hư cấu tưởng tượng có sức mạnh vô song nhưng cực kì độc ác. Tất cả những đặc điểm đó đều xuất phát từ bản năng hút máu người.
Tranh vẽ ma cà rồng thời xưa.
Trong những câu chuyện thời xưa, người ta đồn rằng máu người giúp ma cà rồng duy trì sức mạnh và tốc độ ghê gớm nhưng cũng khiến loài này trở nên độc ác, hung dữ. Nếu không có máu, ma cà rồng sẽ già đi nhanh chóng, sức khỏe suy yếu và cuối cùng là… chết.
Máu tươi là thứ duy nhất duy trì sự sống, vẻ đẹp và sức mạnh của ma cà rồng.
Thiếu máu, ma cà rồng sẽ chết trong sự đau đớn và xấu xí.
Tất nhiên, đây cũng chỉ là kết quả của trí tưởng tượng con người, một kết quả có thể phần nào xuất phát từ nỗi ám ảnh “cải lão hoàn đồng”.

… tới những bằng chứng khoa học hiện nay

Hiện nay, cuộc hành trình tìm kiếm bí kíp trường sinh bất lão, trẻ mãi không già vẫn đang tiếp tục. Mới đây nhất, giới chuyên gia đã phát hiện ra nhiều bằng chứng khoa học khẳng định tiềm năng của việc đảo ngược tuổi tác, chống lại sự lão hóa ở người.
Năm 2012, các nhà khoa học tại ĐH Stanford (Mỹ) đã thành công trong thí nghiệm “cải lão hoàn đồng” cho chuột. Cụ thể, bằng cách tiêm máu của những cá thể chuột “trẻ” cho chuột “già”, các chuyên gia đã thu được kết quả đáng ngạc nhiên. 

Những đối tượng chuột được tiêm máu chuột “trẻ” phục hồi sức mạnh cơ xương trong thời gian rất ngắn, các mạch máu mới được sinh ra, chức năng khứu giác tốt lên cũng như trí nhớ được cải thiện đáng kể. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, các nhà khoa học chưa tìm ra được cơ chế tác động của thần dược này.
Thí nghiệm trên chuột đã cho thấy tiềm năng của việc con người có thể "cải lão hoàn đồng".
Mới đây, một phần câu trả lời đã được tìm ra. Các nghiên cứu đã cô lập được yếu tố tăng trưởng có trong máu chuột “trẻ” giúp cải lão hoàn đồng có tên GDF 11. 

Yếu tố này thực chất là một protein có tác dụng khôi phục hoạt động của tế bào gốc, giúp các tế bào, mạch máu mới được sản sinh ra như khi cơ thể còn trẻ. Đó là lý do mà khi protein này có mặt trong cơ thể chuột “già”, chúng phát huy khả năng “cải lão hoàn đồng” ngay trên đối tượng.

Điều đáng vui mừng nhất là protein này cũng có trong cơ thể người. Các nhà khoa học ở ĐH Harvard (Mỹ) hy vọng rằng, trong một tương lai gần, GDF 11 sẽ được vận dụng trong việc điều trị phục hồi cho các bệnh nhân Alzheimer và Parkinson, đưa loài người tiến gần tới ước mơ “cải lão hoàn đồng” trong nhiều thế hệ.
* Bài viết sử dụng tư liệu tham khảo từ các nguồn: Io9, The Guardian, National Geographic, Vampire Diaries...
Việt An - Theo Trí Thức Trẻ

Thứ Hai, 5 tháng 5, 2014

Những phát minh đáng kinh ngạc của người Ai Cập cổ đại (Phần II)

Những phát minh đáng kinh ngạc của người Ai Cập cổ đại (Phần II). Nền văn minh Ai Cập từ xa xưa đã khiến cả thế giới phải nể phục với trí tuệ và sự sáng tạo của mình.

Trong phần I của bài viết, chúng ta đã được biết đến những phát minh của người Ai Cập cổ đại góp phần làm thay đổi cuộc sống loài người như phát minh ra giấy cói, lịch hay chiếc cày. Trong phần 2 này, chúng ta sẽ tiếp tục được tìm hiểu những phát minh không kém phần thú vị khác của những người Ai Cập cổ đại.

Kẹo thơm miệng

Những phát minh đáng kinh ngạc của người Ai Cập cổ đại (Phần II)

Khác với chúng ta, người Ai Cập cổ đại không sử dụng nhiều các loại nước giải khát có đường hay thực phẩm dễ gây sâu răng, nhưng chính những viên đá họ dùng để xay bột bánh mì chứa rất nhiều cát và đá mạt khiến họ có thể bị viêm lợi hay nhiễm trùng. Vì vậy, họ thường mắc chứng hôi miệng, ngay cả ở những người trẻ. Người Ai Cập khá giỏi về y thuật nhưng không hề có các nha sĩ hoặc bác sĩ phẫu thuật để chữa răng và nướu răng bị hư hại nghiêm trọng của mình.

Các nhà khoa học khi khai quật xác ướp đã tìm thấy những răng bị sâu và bằng chứng về sự mưng mủ ở nướu răng. Để đối phó với các mùi khó chịu từ hơi thở của mình, người Ai Cập cổ đã phát minh ra thuốc thơm miệng đầu tiên, đó là sự kết hợp của hương trầm, nhựa thơm và quế đun sôi với mật ong và sau đó vê thành những viên nhỏ.

Bowling


Làn đường chơi bowling của người Ai Cập cổ

Ném quả bóng bằng đá dọc theo một làn đường là một trò chơi phổ biến ở Ai Cập cổ đại, mà là tiền thân của trò chơi bowling ngày nay. Bằng chứng về trò chơi này đã được tìm thấy ở Narmoutheo, cách thành phố Cairo khoảng 90km. Trò chơi là sự pha trộn giữa bowling và billiard, diễn ra trong một căn phòng rộng. Đây có thể là mô hình đầu tiên của phòng chơi bowling hiện đại ngày nay. Căn phòng nằm trong một khu định cư có từ thời La Mã, thuộc thế kỷ 2-3.

Làn đường dài 4 m, rộng 20 cm, sâu 9 cm, và có một lỗ hổng hình vuông có kích thước 12 cm ở trung tâm. Ở dưới lỗ hổng đó, các nhà nghiên cứu tìm thấy một chiếc lọ bằng đất nung lớn phủ đầy cát mịn. Họ cũng nhận thấy các quả bóng có đường kính khác nhau, một quả vừa khít với lỗ hổng hình vuông, quả khác có thể lăn qua dễ dàng trên làn đường.

Cạo râu và cắt tóc


Dụng cụ cạo râu và tóc

Có lẽ người Ai Cập là nhóm người cổ đại đầu tiên cảm thấy khó chịu với mái tóc của mình. Họ coi việc để tóc quá dài là không hợp vệ sinh, cái nóng oi bức của Ai Cập khiến họ cảm thấy không thoải mái khi để tóc và râu dài như vậy. Chính vì lí do đó, họ thường cắt tóc ngắn hoặc cạo trọc đầu và cạo râu thường xuyên. Thậm chí các linh mục còn cạo toàn bộ cơ thể mình ba ngày một lần. Trong lịch sử nền văn minh Ai Cập, mày râu nhẵn nhụi được coi là thời trang thịnh hành nhất.

Cuối cùng, người Ai Cập đã phát minh ra dụng cụ dùng để cạo râu tóc đầu tiên, gồm một lưỡi đá sắc đặt trong tay cầm bằng gỗ và sau đó được thay bằng lưỡi sắc bằng đồng. Họ còn khai sinh ra nghề cắt tóc, các thợ cắt tóc đầu tiên thường làm việc cho những nhà quý tộc giàu có.
Kiểu râu và tóc giả rất được ưa chuộng
Thế nhưng điều kì lạ ở chỗ, họ không muốn để tóc hay râu nhưng lại rất ưa chuộng tóc giả hay râu giả. Người Ai Cập cổ đại thường lấy tóc người hoặc lông cừu để chế tác thành tóc giả hoặc râu giả, kể cả các nữ hoàng hay vua cũng rất ưa chuộng. Râu giả có nhiều hình dạng khác nhau, mục đích để phân biệt phẩm giá và địa vị xã hội của người đeo. Công dân bình thường được đeo những bộ râu giả nhỏ dài khoảng 5cm, trong khi những vị vua thường đeo những bộ râu rất dài và được tỉa hình vuông ở cuối. Các vị thần Ai Cập thậm chí còn có những bộ râu dài sang trọng hơn.

Khóa cửa


Chúng ta nên cảm ơn người Ai Cập cổ đại vì đã phát minh ra công cụ hết sức quan trọng này. Chính họ đã tạo ra khóa cửa vào khoảng năm 4000 trước công nguyên. Về cơ bản là đây là một khóa trụ tang chốt, có nghĩa ổ khóa gồm một thanh trục lõm được kết nối với các lẫy (pins) có độ dài khác nhau có thể được thao tác bằng cách chèn vào đó chìa khóa. Khi đưa chìa khóa thích hợp vào ổ, các rãnh trên chìa sẽ đẩy các thanh pin lên sao cho các pin sẽ thoát ra khỏi trục khóa. Lúc này, ta có thể xoay trục khóa và mở khóa.

Tuy nhiên, nhược điểm của các ổ khóa thời cổ đại chính là kích thước của chúng. Những cái lớn nhất có chiều dài lên tới 0.6m. Khóa của người Ai Cập thực sự an toàn hơn so với công nghệ sử dụng lò xo để giữ trục khóa được phát triển về sau bởi người La Mã. Các ổ khóa La Mã đã được ẩn bên trong cánh cửa, nhưng dễ mở hơn nếu so với các ổ khóa của người Ai Cập.

Kem đánh răng


Như đã đề cập bên trên, người Ai Cập cổ gặp rất nhiều vấn đề với hàm răng của mình, phần lớn là bởi cát và sạn có trong bánh mỳ của họ, gây hỏng men răng. Tuy rằng không có các nha sĩ nhưng họ cũng phát minh ra những vật liệu giúp giữ răng sạch sẽ. Các nhà khảo cổ đã tìm thấy tăm được chôn bên cạnh xác ướp, giúp họ có thể làm sạch các mảnh vụn thức ăn trong răng. Cùng với người Babylon, họ cũng đã có công phát minh ra những chiếc bàn chải đánh răng đầu tiên, đó là đầu bị sờn của cành cây gỗ.

Tuy nhiên đó không phải là tất cả, người Ai Cập còn phát minh ra kem đánh răng. Ban đầu, kem đánh răng là hỗn hợp của bột móng bò, tro, vỏ trứng bị đốt cháy và đá bọt. Nghe có vẻ giống công thức của các mụ phù thủy trong truyện cổ tích hơn là loại kem giúp làm sạch răng miệng. Tuy nhiên, các nhà khảo cổ cũng đã tìm thấy công thức làm kem đánh răng cao cấp hơn được viết trên giấy cói. Theo những gì ghi chép lại, đây là một loại bột giúp “hàm răng trắng và đẹp hoàn hảo”, được kết hợp từ muối mỏ, bạc hà, hoa iris khô và hạt tiêu.

Những phát minh đáng kinh ngạc của người Ai Cập cổ đại (Phần II) / Genk.vn

Chủ Nhật, 4 tháng 5, 2014

Những biến đổi thú vị trong môi trường không trọng lực

Trong môi trường không trọng lực ngoài không gian, những thứ dường như là chân lí hoàn toàn có thể bị thay đổi !

Vũ trụ ẩn chứa nhiều điều bí ẩn mà con người chúng ta vẫn chưa tìm ra và không thể lí giải nổi. Thậm chí những điều được coi là chân lý dưới Trái Đất thì trong môi trường không trọng lực ngoài không gian nó lại hoàn toàn ngược lại. Hãy cùng khám phá những biến đổi kinh ngạc của sự vật trong không gian qua bài viết dưới đây.

Chứng ợ chua

Những biến đổi thú vị trong môi trường không trọng lực
Những biến đổi thú vị trong môi trường không trọng lực
Trong điều kiện bình thường, dưới tác động của trọng lực, các chất lỏng thường bị chìm xuống dạ dày của bạn còn phần khí được đẩy lên trên. Tuy nhiên, đối với các phi hành gia làm việc trong môi trường không trọng lực thì việc này hoàn toàn khác. Hãy thử tưởng tượng chất lỏng trong dạ dày của họ không thể chìm xuống hẳn dưới và gây ra hiện tượng còn gọi là “ợ ướt”.

Chính vì vấn đề này, Trạm không gian quốc tế không hề dự trữ đồ uống có ga. Mà nếu có, những loại đồ uống này cũng không thể đẩy ga lên trên như ở trên Trái Đất được. Khi uống các đồ uống có ga, nước và ga thường được tách riêng trong dạ dày, và dẫn đến việc ợ chua. Để khắc phục việc này, các hãng sản xuất đồ uống có ga, cụ thể là Coke/Pepsi đã cải tiến và cho ra đời những loại đồ uống thích hợp cho môi trường không trọng lực, giúp cho các phi hành gia cảm nhận được vị ngon như trong môi trường bình thường.

Tốc độ

Lỗ thủng nhỏ trên tấm pin Mặt Trời


Trong không gian, những mảnh vỡ di chuyển với tốc độ nhanh đến nỗi mà não của chúng ta khó có thể nhận biết được. Xung quanh Trái Đất có hàng triệu mảnh rác nhỏ và chúng di chuyển với tốc độ đáng kinh ngạc: 35.500 km/h. Ở tốc độ cao như vậy, chúng ta sẽ không thể nhìn thấy vật thể đó đang đi tới hay nói chính xác hơn là bộ não không kịp điều khiển cơ thể phản ứng.

Trong vũ trụ, các mảnh vỡ với nhiều kích thước khác nhau hoàn toàn có thể va chạm với tàu vũ trụ hoặc các vật thể nhân tạo khác. Ngay cả những mảnh rác nhỏ cỡ vài mm đường kính cũng có thể gây ra những lỗ thủng, chúng như những viên đạn có vận tốc cực lớn. Tuy nhiên chúng ta không phải quá lo lắng bởi NASA có thể dự đoán được những va chạm như thế này và lớp bảo vệ của Trạm không gian được xây dựng để chịu được những tác động đó.

Sự tĩnh điện


Sự tĩnh điện có thể làm xảy ra những hiện tượng khá thú vị. Ví dụ như làm những giọt nước quay quanh một kim đan tĩnh điện hay cảm giác bị điện giật khi chạm vào chăn len chẳng hạn. Lực tĩnh điện tác động lên các vật khác, kéo chúng hướng tới nó như trọng lực tác động lên các hành tinh vậy. Tuy nhiên trong không gian, lực tĩnh điện mạnh hơn những gì chúng ta tưởng tượng.

Các nhà khoa học đang nghiên cứu để tạo ra một chùm máy kéo điện tĩnh, có khả năng thu dọn rác ở trong không gian. Hiện tại, càng ngày càng có nhiều rác thải bay xung quanh quỹ đạo Trái Đất và chùm tia này có thể hút lấy chúng và ném chúng vào không gian.

Thị lực


Khoảng 20% các phi hành gia đã từng sống trên Trạm không gian quốc tế ISS nói rằng thị lực của họ bị giảm sút khi trở về Trái Đất. Và cho đến nay, các nhà khoa học vẫn chưa có câu trả lời chính xác về điều này. Chúng ta vẫn thường cho rằng bởi vì trong môi trường trọng lực thấp đã giải phóng dịch cơ thể lên hộp sọ và tăng áp lực sọ não.Nhưng những bằng chứng mới đây cho thấy nguyên nhân có thể liên quan đến yếu tố đa hình ( polymorphisms). Đó là một loại enzyme ảnh hưởng đến quá trình xử lý các chất dinh dưỡng của cơ thể.

Sức căng bề mặt

Sức căng bề mặt trong không gian


Chúng ta có thường không chú ý đến sức căng bề mặt trên Trái Đất bởi trọng lực tác động lên. Tuy nhiên, khi ở trong môi trường không trọng lực, sức căng bề mặt hoạt động mạnh hơn rất nhiều.

Thử lấy một chiếc vòng thép mỏng nối với một chiếc que làm tay cầm rồi nhúng vào nước. Khi nhấc ra theo phương ngang, bạn sẽ có cảm giác bề mặt nước được giữ lại bên trong lòng chiếc vòng, nhưng sau đó sẽ vỡ ra. Tuy nhiên, trong môi trường vô trọng lực, chiếc vòng của bạn khi nhấc ra sẽ có một lớp màng nước và nó rất bền, giống như đã chuyển thành một loại chất dẻo vậy. Các nhà khoa học lý giải, do trong điều kiện bình thường, dưới tác động của trọng lực, sức căng bề mặt bị lực hướng xuống khiến lớp màng nước tan vỡ. Còn trong môi trường vô trọng lực, không còn lực hướng xuống, nước chỉ còn nhiệm vụ duy trì liên kết. Liên kết này khá bền, dù lắc mạnh cũng không thể phá vỡ, trừ khi có một vật khác tác động vào nó.

Việc tập thể dục


Mọi người thường nghĩ rằng cơ bắp của các phi hành gia bị teo lại trong không gian, do đó để đối phó với vấn đề này, các nhà du hành đã phải tập luyện nhiều hơn những người bình thường. Không gian không phải là nơi dành cho những người nhu mì, ngược lại họ còn được đào tạo bài bản để tránh bị lão hóa cấu trúc xương.

Thực tế, NASA rất chú trọng đến việc tập thể dục thường xuyên trong không gian. Nếu không có chế độ này, các phi hành gia không chỉ yếu hơn khi trở về Trái Đất mà họ còn bị teo xương và cơ bắp đi rất nhiều. Bởi trong môi trường không trọng lượng họ ít phải đi bộ hay vận động mạnh. Quan trọng hơn, cơ bắp thì có thể lấy lại nhưng xương thì khó có thể khôi phục hoàn toàn.

Vi khuẩn

Khuẩn Salmonella

Trong một thí nghiệm, các nhà khoa học gửi mẫu khuẩn salmonella (loại vi khuẩn làm thức ăn trở nên có độc) vào không gian và khi trở lại nó nguy hiểm gấp bảy lần. Đây dường như là một tin không hề vui với sức khỏe của các phi hành gia nhưng chính nó đã giúp các nhà khoa học tìm ra cách để khắc chế loại vi khuẩn này cả ở trong vũ trụ và trên Trái Đất.

Bằng cách nghiên cứu gen vi khuẩn salmonella trong môi trường trọng lực thấp, các nhà khoa học xác định rằng nồng độ ion cao hoàn toàn có thể ức chế vi khuẩn. Nghiên cứu sâu hơn có thể chế tạo ra các loại vắc-xin và cách điều trị ngộ độc salmonella.

Những biến đổi thú vị trong môi trường không trọng lực / Lukhachdem Blog
Tham khảo : Genk.vn - Listverse.com

Khám phá hiện tượng "chết đứng" vì sợ hãi

Trong tự nhiên, nỗi sợ hãi là bản năng nguyên sơ giúp bảo vệ động vật khỏi những kẻ thù ăn thịt. Tuy nhiên, đối với con người, xúc cảm này có thể phức tạp hơn nhiều.

Trong tự nhiên, nỗi sợ hãi là bản năng nguyên sơ giúp bảo vệ động vật khỏi những kẻ thù ăn thịt. Tuy nhiên, đối với con người, xúc cảm này có thể phức tạp hơn nhiều. Ở con người, nỗi sợ hãi có thể kích hoạt phản ứng "chiến đấu hay bỏ chạy", làm tăng nhịp tim, khiến các giác quan trở nên sắc bén và nâng cao năng lượng nhằm đối phó với các hiểm họa sinh tồn.

Đôi khi, mối đe dọa mãnh liệt đến mức có thể gây ra phản ứng "đóng băng" hay "chết sững người". Hiện tượng này có thể được hiểu là khi bộ não bị choáng ngợp hoặc là một cách giữ bất động nhằm ẩn nấp kẻ thù trong quá trình tiến hóa.
Khám phá hiện tượng "chết đứng" vì sợ hãi
Khám phá hiện tượng "chết đứng" vì sợ hãi
Hiện tại, các chuyên gia thần kinh đã khám phá chính xác cách thức bộ não kết nối hệ thống sinh tồn của nó với cột sống, khiến cơ thể "chết sững" khi đối mặt với nguy hiểm.

Như chúng ta đã biết, các ký ức được tiếp thu và lưu trữ ở một cấu trúc nhỏ trong bộ não, gọi là hạch hạnh nhân. Bất kỳ sự kiện gây náo động nào cũng sẽ kích hoạt các tế bào thần kinh ở vùng bên và tiếp đến là vùng chính giữa của hạch hạnh nhân. Các tín hiệu này sau đó được truyền tải nội bộ, trước khi kết nối với các tế bào thần kinh ở gốc não, trung tâm phụ trách phản ứng sợ hãi.

Các nhà nghiên cứu tin rằng, vùng chất xám của não giữa (PAG) có thể kích hoạt những phản ứng như "đóng băng", tăng nhịp tim và áp huyết cũng như mong muốn chiến đấu hoặc bỏ chạy. Nghiên cứu của Đại học Bristol (Mỹ) đã phát hiện ra một con đường hoạt động của bộ não từ vùng PAG dẫn tới vùng tháp kiểm soát vận động của tiểu não.

Các thử nghiệm cho thấy, vùng tháp của tiểu não có liên quan đến việc khởi phát hành vi chết sững khi ai đó đối đầu với nguy hiểm. Khám phá này được kỳ vọng có thể giúp phát triển những biện pháp chữa trị hữu hiệu đối với các rối loạn cảm xúc, chẳng hạn như sự lo âu, hoảng loạn hay ám ảnh sợ hãi.

Khám phá hiện tượng "chết đứng" vì sợ hãi / Lukhachdem Blog
Theo Vietnamnet

Thứ Bảy, 3 tháng 5, 2014

Khám phá lịch sử phát triển của chiếc xe đạp

Để trở thành một phương tiện giao thông hoàn thiện như ngày nay, xe đạp đã trải qua một lịch sử phát triển với hàng loạt các cải tiến của nhiều nhà phát minh.

Xe đạp là một phương tiện giao thông có lịch sử phát triển lâu đời và trước tình hình chi phí nhiên liệu leo thang, người ta lại tìm về với xe đạp như một giải pháp vừa tiết kiệm, giảm thiểu ô nhiễm môi trường và cũng là một phương pháp rèn luyện sức khỏe.

Để trở thành một phương tiện giao thông hoàn thiện như ngày nay, xe đạp đã trải qua một lịch sử phát triển với hàng loạt các cải tiến của nhiều nhà phát minh. Chuyên mục " Mỗi tuần một phát minh " tuần này mời các bạn cùng điểm lại những cột mốc lịch sử quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển của xe đạp nhé.

Năm 1817: Cỗ máy đi bộ của Drais - xe đạp được khai sinh


Khái niệm đầu tiên về xe đạp xuất hiện từ đầu thế kỷ 19. Nam tước người Đức - Baron von Drais đã có ý tưởng phát minh một phương tiện dùng sức người và có thể giúp ông di chuyển nhanh quanh khu vườn hoàn gia. Năm 1817, ông đã trình làng một chiếc xe "đi bộ" có tên Laufmaschine (trong tiếng Đức có nghĩa là "cỗ máy chạy bằng chân"). Trong lần sử dụng đầu tiên vào ngày 12 tháng 6 năm 1817, ông đã đi được đoạn đường 13 km mà chỉ mất khoảng 1 giờ đồng hồ.
Khám phá lịch sử phát triển của chiếc xe đạp
Mẫu xe đạp Draisine được lưu trữ ở bảo tàng xe 2 bánh tại Đức​

Laufmaschine còn được gọi với là Draisine (tiếng Anh) hay draisienne (tiếng Pháp) hoặc Hobby Horse (ngựa gỗ) vì nó được chế tạo gần như hoàn toàn từ gỗ. Chiếc xe nặng 22 kg với cấu tạo gồm 2 bánh xe bằng gỗ được bọc sắt có kích thước bằng nhau và được lắp thẳng hàng trên một chiếc khung gỗ. Bánh trước có thể lái được và bánh sau được trang bị một chiếc phanh. Chiếc xe được vận hành bằng cách người điều khiển sẽ đẩy chân xuống đất ra phía sau và nó sẽ tiến về phía trước.

Ông được cấp bằng sáng chế thương mại cho phát minh này vào năm 1818. Hàng nghìn chiếc đã được sản xuất chủ yếu tại thị trường Tây Âu và Bắc Mỹ nhưng vẫn còn một khuyết điểm là rất khó để có thể giữ thăng bằng khi điều khiển. Phát minh của Drais nhanh chóng bị người sử dụng từ chối do số lượng các vụ tai nạn ngày càng nhiều khiến chính quyền một số thành phố phải cấm sử dụng loại phương tiện này.

Những năm 1860: Bàn đạp xuất hiện và chiếc xe Boneshaker hay Velocipede
Xe đạp Boneshaker tại Châu Âu vào những năm 1868​

Sự phát triển tiếp theo của xe đạp là chiếc xe tương tự như Laufmaschine của Drais nhưng được trang bị thêm trục khuỷu và bàn đạp lắp trực tiếp vào trục bánh xe trước. Mô hình này được Pierre Michaux - một nhà phát minh người Pháp, giới thiệu vào những năm 1865 với tên gọi là Fast-Foot và gây nên một cơn sốt thời trang khi mọi người đua nhau sở hữu. Thời bấy giờ, người ta còn đặt cho nó một tên gọi khác là xe lắc xương (Boneshaker). Tên gọi hài hước Boneshaker bắt nguồn từ việc bánh xe được làm bằng gỗ trong khi viền bánh xe được chế tạo từ kim loại. Sự kết hợp này khiến việc chạy xe trên những con đường gồ ghề trở nên cực kỳ khó chịu, dằng xóc giống như vừa đi vừa "lắc xương". Cũng chính vì lí do nêu trên mà Boneshaker trong giai đoạn này vẫn chưa được phổ biến rộng rãi.

Những năm 1870: Xe đạp bánh cao (The High Wheel Bicycle)


Sự phát triển của trình độ luyện kim thời bấy giờ cho phép tạo ra những chi tiết kim loại nhỏ, mảnh nhưng đủ chắc chắn để chịu được trọng lượng cơ thể người. Năm 1870, chiếc xe đạp được chế tạo hoàn toàn bằng kim loại đầu tiên được phát minh bởi hai nhà sản xuất xe đạp là James Starley và William Hillman. Chiếc xe này được đặt tên là "Ariel" với bánh trước lớn và bánh nhỏ phía sau.
Xe đạp Ariel năm 1870 với đặc trưng bánh trước to và bánh sau nhỏ.​

Với một khung xe có trọng lượng nhẹ, Ariel có thể di chuyển với vận tốc 24 km/h, một vận tốc kỷ lục của xe đạp vào thời đó. Tương tự Boneshaker, bàn đạp vẫn được lắp trực tiếp vào trục bánh trước và chưa có cơ cấu líp. Lốp xe được chế tạo từ cao su cứng và đặc ruột cộng với các nan hoa dài, mảnh cho phép chiếc xe chuyển động mượt mà hơn rất nhiều so với các mẫu xe trước đây.

Xuất phát từ nhu cầu một mẫu thiết kế xe đạp dành cho phụ nữ, năm 1876, James Starley tiếp tục phát minh mẫu xe đạp 3 bánh mang tên Salvo. Đây là chiếc xe đạp đầu tiên được trang bị dây xích nối bánh răng kép trên bánh xe với nhau, thiết kế này cho phép bánh xe quay được 2 vòng khi người điều khiển đạp 1 vòng. Cả 2 bánh xe đều được trang bị các nan hoa bằng kim loại. Thời gian sau đó, mẫu xe này trở nên rất phổ biến do có giá thành rẻ, dễ điều khiển và vận hành một cách an toàn.

James Starley (người thứ 3 từ phải qua) cùng mẫu xe đạp Salvo trong bức ảnh được chụp vào năm 1877. Ông chính là người phát minh ra cơ cấu dây xích nối 2 bánh răng lắp trên xe đạp với nhau. Ông được mệnh danh là cha đẻ của ngành công nghiệp sản xuất xe đạp.​

Năm 1878, 2 nhà sản xuất xe đạp đến từ nước Anh là Otto và Wallace phát minh nên mẫu xe đạp 2 bánh mang tên Kangaroo. Đây là chiếc xe đạp được phổ biến rộng rãi đầu tiên được trang bị hệ thống sên - dĩa đầy đủ nhất. Kangaroo có bánh trước to hơn bánh sau rất nhiều cho phép nó có thể di chuyển nhanh hơn. Các nhà nhà sản xuất nhận thấy rằng nếu bánh xe càng lớn thì một vòng đạp của người điều khiển sẽ đưa chiếc xe đi được quãng đường dài hơn. Chính vì lí do đó mà các nhà sản xuất đua nhau làm nên những chiếc xe với bánh trước ngày càng to hơn. Người mua sẽ phải lựa chọn một chiếc xe với độ lớn của bánh trước phù hợp với chiều dài chân của mình để đảm bảo họ có thể sử dụng được. Đây cũng là lần đầu tiên người ta dùng từ Bicyle (xe đạp) để chỉ phương tiện di chuyển 2 bánh bằng, dùng sức người "đạp và chạy".

Xe đạp Kangaroo của Otto và Wallace năm 1878​


Khuyết điểm lớn nhất của các mẫu xe đạp trong thời kỳ này là do chỗ ngồi của người lái quá cao nên trọng tâm trên xe không được phân bố đều. Nếu bánh trước vấp phải một hòn đá hoặc đang di chuyển xuống một con dốc, toàn bộ chiếc xe sẽ bổ nhào về phía trước trong khi chân của người lái bị mắc kẹt vào bàn đạp cộng với việc vị trí điều khiển khá cao nên rất dễ xảy ra những chấn thương nguy hiểm, đặc biệt là chấn thương đầu.

​Năm 1879, Bayliss Thomas phát minh xe đạp "The Bayliss Thomas" với khung xe chế tạo bằng những ống thép rỗng ruột và được trang bị phuộc trước. Cùng thời gian đó, nhà phát minh người Anh là Harry John Lawson chế tạo mẫu xe đạp đầu tiên có sử dụng dây sên. Dây sên được nối giữa dĩa ở trục bánh sau với bàn đạp của người điều khiển. Mẫu xe này được gọi là xe đạp an toàn. Đây là tiền thân của chiếc xe đạp ngày nay.

Hình ảnh xe đạp an toàn được chế tạo vào năm 1879 bởi Lawson. Xe đạp an toàn sử dụng dây sên để nối dĩa ở trục bánh sau với bàn đạp của người điều khiển. Đây chính là hệ thống sên-dĩa hoàn thiện đầu tiên trên xe đạp.​

Năm 1874, Đến năm 1878, những chiếc xe đạp đầu tiên được sản xuất công nghiệp với số lượng lớn tại Mỹ bởi công ty Pope thuộc sở hữu của Albert Augustus Pope.

Những năm 1880 - 1899: giai đoạn hoàng kim


Năm 1880, nhà phát minh người Anh là E.C.F. Otto chế tạo mẫu xe đạp "dicycle" với hai bánh xe có kích thước bằng nhau được đặt song song cạnh nhau. Người điều khiển ngồi ở giữa 2 bánh xe và vận hành xe bằng bàn đạp ở hai bên. Khi muốn điều khiển xe rẽ trái hay phải, người điều khiển dừng đạp ở bên tương ứng với hướng muốn rẽ. Mẫu xe này không được sản xuất đại trà do việc điều khiển khá phức tạp và gặp nhiều khó khăn.
Mẫu xe đạp của E.C.F. Otto năm 1880​

Năm 1885, John Kemp Starley, cháu của nhà phát minh James Starley, đã chế tạo ra mẫu xe đạp an toàn với 2 bánh xe có kích thước bằng nhau được lắp thẳng hàng trên một khung kim loại rỗng. Xe được trang bị đầy đủ các bộ phận như phanh, hệ thống dây sên - dĩa. Đây chính là nguyên mẫu của chiếc xe đạp hiên đại. Khoảng 2 đến 3 năm sau đó, mẫu xe này được đưa vào sản xuất hàng loạt và phổ biến một cách rộng rãi.
Mẫu xe đạp mang tên Rover do John Kemp Starley (cháu của James Starley) phát minh năm 1885.​

Năm 1888, nhà phát minh người Scotland, John Dunlop phát minh ra lốp xe khí nén áp dụng cho xe đạp. Chiếc lốp này cho phép xe đạp vận hành êm ái và nhẹ nhàng hơn trên những con đường gồ ghề, khắc phục được những nhược điểm của lốp xe đặc ruột. Sau đó, người ta cũng tìm thấy được mô hình thiết kế khung xe gọi là kiểu "kim cương" với khả năng chịu lực tốt hơn. Thiết kế lốp xe khí nén và khung xe kiểu "kim cương" đơn giản làm xe đạp có trọng lượng nhẹ giúp vận hành trơn tru, hiệu quả hơn. Đồng thời, các cải tiến nói trên cũng tạo điều kiện cho việc bảo trì, sữa chữa trở nên thuận lợi hơn.

John Dunlop (1840 -1921) người phát minh ra lốp xe khí nén. Ông chính là người sáng lập nên công ty Dunlop nổi tiếng chuyên sản xuất lốp xe và các dụng cụ thể thao.​

Với các khía cạnh quan trọng là dễ điều khiển, an toàn, thoải mái và di chuyển nhanh chóng, xe đạp trở thành phương tiện giao thông phổ biến đối với tầng lớp trung và thượng lưu tại châu Âu và Bắc Mỹ trong nửa cuối những năm 1890. Mẫu xe đạp có lốp cao su, kích thước 2 bánh bằng nhau được lắp trên khung với "thiết kế kim cương" chính là mẫu xe đạp đầu tiên mà cả nam và nữ đều có thể sử dụng một cách thuận lợi. Giai đoạn này là thời kỳ phát triển hoàng kim trong lịch sử phát triển xe đạp với hàng loạt những cải tiến góp phần hoàn thiện mô hình xe đạp hiện đại ngày nay.

Từ thế kỷ 20 đến nay…


Xe đạp ngày càng trở thành một phương tiện di chuyển quan trọng ở châu Âu trong nửa đầu thế kỷ 20, nhưng nhu cầu sử dụng xe đạp lại giảm đi đáng kể tại Mỹ từ năm 1900 đến năm 1910 do sự ra đời của xe hơi. Đến những năm 1920, xe đạp dần biến thành một món đồ chơi trẻ em và vào năm 1940, hầu hết xe đạp tại Mỹ đều được sản xuất dành cho trẻ em. Tuy nhiên, tại châu Âu, xe đạp vẫn được sử dụng hết sức rộng rãi.

Trong suốt nửa đầu thế kỷ 20, xe đạp luôn được tiếp tục phát triển cho phù hợp với nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng. Hệ thống líp xe nhiều dĩa cỏ thể chuyển đổi qua lại khi đang chạy được phát triển tại Pháp từ năm 1900 đến 1910 và dần được hoàn thiện theo thời gian. Năm 1930, Tổ chức đua xe đạp châu Âu đã cho phép các tay đua sử dụng hệ thống này. Trước đó, nếu muốn thay đổi dĩa xe trong cuộc đua, tay đua phải dừng lại, tháo bánh xe ra để thay đổi chiếc dĩa mong muốn và lắp lại. Điều này cực kỳ mất thời gian. Hệ thống này giúp các tay đua tiết kiệm được rất nhiều thời gian khi muốn thay đổi tốc độ của chiếc xe.
Hệ thống nhiều dĩa có thể luân chuyển khi đang xe đang chạy​

Khoảng giữa thế kỷ 20, nhiều thiết bị khác trên xe đạp được tiếp tục chế tạo và hoàn thiện như hệ thống phanh tay, vòng đạp nhẹ hơn, hệ thống đèn chiếu sáng chạy bằng dinamo gắn trên bánh xe, lốp xe cũng được thiết kế hẹp hơn giúp giảm ma sát cho phép xe đạp di chuyển trơn tru và nhẹ nhàng hơn. Những chiếc xe đạp này trở nên rất phổ biến tại châu Âu đặc biệt là tại Anh vào những năm 1950 và luôn được cải tiến trong suốt những thập niên còn lại của thế kỷ 20. Xe đạp dần trở thành là một sở thích phổ biến của nhiều người.
Chiếc siêu xe đạp của Audi.

Kể từ đầu thế kỷ 21, xe đạp bắt đầu được cải tiến mạnh mẽ với sự phát triển của công nghệ. Trong thiết kế, khung xe được chế tạo bằng các vật liệu khác nhau để giảm trọng lượng nhưng vẫn đảm bảo độ bền cũng như các yêu cầu về khí động họ. Sự cân bằng của xe đạp được tính toán và mô phỏng bởi các phần mềm máy tính cho phép chế tạo những chiếc xe đạp an toàn với người điều khiển hơn. Các công nghệ mới được áp dụng như chế tạo các chi tiết bằng sợi cacbon hay hệ thống tự chuyển đổi líp bằng điện tử khiến chiếc xe đạp ngày càng hiện đại hơn. Cho đến thời điểm hiện tại, xe đạp vẫn luôn được cải tiến song song với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật để đáp ứng các yêu cầu ngày càng khắt khe hơn của người dùng.

Khám phá lịch sử phát triển của chiếc xe đạp / Lukhachdem Blog
Theo Tinhte.vn

Thứ Sáu, 2 tháng 5, 2014

Các nhà khoa học tìm ra hướng đi mới trong việc tìm kiếm sự sống ngoài Trái đất

Một ngôi sao đang tàn lụi, lại có khả năng đang chiếu sáng cho một hành tinh có sự sống.


Người ta thường nói, trong cái chết thường tồn tại sự sống, và điều này đặc biệt hợp lý trong công cuộc tìm kiếm sự sống ngoài Trái đất. Kính thiên văn Kepler của NASA đã thực hiện nhiệm vụ này hàng năm qua, và tín hiệu về sự sống đầu tiên đã xuất hiện, không phải từ một hành tinh quay quanh một ngôi sao sáng giống Mặt trời. Ngược lại, một ngôi sao đang tàn lụi, giúp chúng ta xác định một hành tinh có sự sống dễ dàng hơn rất nhiều.
Các nhà khoa học tìm ra hướng đi mới trong việc tìm kiếm sự sống ngoài Trái đất
Công cuộc tìm kiếm sự sống ngoài Trái đất có thể được chia thành hai giai đoạn chính: đầu tiên người ta phải tìm được một hành tinh có khả năng ở được, một hành tinh có cấu trúc giống Trái đất. Và thứ hai, phải tìm kiếm những bằng chứng cho thấy khả năng tồn tại sự sống trên hành tinh đó, bao gồm cả việc tìm ra những dấu vết của sự sống.

Bước đầu tiên vẫn tiến triển rất khả quan. Trạm thiên văn Kepler của NASA đã tìm kiếm các hành tinh giống Trái đất trong vòng hơn bốn năm nay và họ vẫn đang hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ này. Theo nhà thiên văn – vật lý học của Harvard, Avi Loeb cho biết bước thứ hai mới là bước phức tạp. Chúng ta không thể đưa người đến khám phá các hành tinh khác, cho nên chúng ta chỉ có cách tìm trong bầu khí quyển của hành tinh đó những dấu ấn sinh học chỉ điểm cho sự sống qua những phân tử hóa học, ví dụ như khí oxy. Nhưng điều này là rất khó.

Cách tốt nhất để tìm ra những dấu ấn này, là quan sát hành tinh khi nó di chuyển phía trước ngôi sao mà nó quay xung quanh. Khi đó, ánh sáng từ ngôi sao sẽ chiếu qua bầu khí quyển của hành tinh, các phần tử hóa học trong khí quyển sẽ hấp thụ ít nhiều lượng ánh sáng này, và từ đó các kính thiên văn của chúng ta có thể quan sát và giải mã chúng.

Vấn đề ở đây, theo Loeb, là hầu hết các hành tinh trên quỹ đạo xung quanh những ngôi sao giống Mặt trời, thì diện tích hành tinh này lại nhỏ hơn hàng nghìn lần so với ngôi sao đó (bạn có thể thấy rõ điều này, khi quan sát hiện tượng Venus Transiting – sao Kim đi ngang trước mặt của Mặt trời). Phần lớn ánh sáng mà chúng ta nhìn thấy thì lại không đi qua bầu khí quyển của hành tinh. “Điều này khiến cho việc phát hiện các phần tử oxy rất khó khăn, do ánh sáng của ngôi sao quá mạnh và quá nhiều”.

Nhưng nếu hành tinh đó quay quanh một sao lùn trắng – ngôi sao nhỏ hơn, nhiệt độ thấp hơn, đậm đặc hơn, được biết đến như một ngôi sao chết hay ngôi sao đang chết dần – thì lại là một chuyện khác. Cùng với nhà thiên văn – vật lý học Dan Maoz, Loeb đã xây dựng nên thuyết về hành tinh giống Trái đất quay xung quanh một sao lùn trắng và kết luận rằng, những hành tinh này đều có khả năng phát hiện dễ dàng những dấu hiệu của sự sống.

Kích thước của một sao lùn trắng khá nhỏ, chỉ tương đương Trái đất, vậy nên khi hành tinh đi qua trước mặt ngôi sao này, ít nhiều cũng sẽ làm giảm lượng ánh sáng đi tới một cách rõ rệt. Và, do đó, những dấu ấn sinh học trong khí quyển sẽ dễ dàng được phát hiện.

Loeb cho biết, với ước tính hiện tại, có khoảng hàng tỉ ngôi sao lùn trắng trong dải Ngân hà, và các dữ liệu cho thấy khoảng một phần ba trong số chúng là có hành tinh quay quanh. “Giờ chúng ta có thể thiết kế một lộ trình quan sát để có thể phát hiện các dấu ấn sinh học trong bầu khí quyển của các hành tinh giống Trái đất, nếu chúng thực sự tồn tại”.

Bước đầu tiên của chương trình này, là nhận diện những ngôi sao lùn trắng gần chúng ta, và kiểm tra xem có tồn tại hành tinh nào giống Trái đất đang quay quanh nó ở một khoảng cách thích hợp hay không. Sau đó, dựa vào một lượng lớn những bức ảnh chụp được, máy móc sẽ xử lý và cho ta biết kết quả.

Vậy thì việc tìm kiếm những hành tinh giống Trái đất và những ngôi sao giống Mặt trời thì sao, Loeb cho biết là hoàn toàn có thể, nhưng hiện tại thì chúng ta chưa tìm ra cách để nghiên cứu chúng. Có thể trong thập kỉ tới, chúng ta sẽ tìm ra câu trả lời.

“Thật thú vị”, ông nói, “khi được sống trong thời đại mà người ta vẫn đang tìm câu trả lời cho câu hỏi: liệu chúng ta có cô đơn trong vũ trụ này hay không.” Thực tế, hiện tại, chúng ta đã có đủ những công nghệ có khả năng tìm kiếm sự sống ở những hành tinh giống Trái đất. Cuộc tìm kiếm giờ mới thực sự bắt đầu.

Tham khảo: Io9.com
Theo: Kenh14.vn

Thứ Năm, 1 tháng 5, 2014

Phát hiện loài động vật chạy nhanh nhất thế giới

Các nhà nghiên cứu mới tìm ra loài động vật chạy nhanh nhất thế giới với tốc độ khoảng 2.000km/h.

Các nhà nghiên cứu của trường Pomona College (Mỹ) đã xác định, loài ve Paratarsotomus macropalpis là loài động vật chạy nhanh nhất trên Trái đất, vị trí thứ hai thuộc về bọ cánh cứng hổ Úc, tiếp đến là báo cheetah.

Loài ve Paratarsotomus macropalpis không lớn hơn một hạt vừng (hạt mè) nhưng lại có tốc độ di chuyển đến chóng mặt.
Cận cảnh loài ve Paratarsotomus macropalpis.
Cận cảnh loài ve Paratarsotomus macropalpis.
Nếu đọ về khoảng cách thì báo cheetah đứng đầu nhưng nếu cuộc đua được đo bằng “chiều dài cơ thể trên giây”, không con vật nào qua mặt được ve Paratarsotomus macropalpis - với kỷ lục 322 kích thước chiều dài cơ thể/giây, tương đương một người chạy 2.000km/h.

Loài ve này dễ dàng vượt qua tốc độ của bọ cánh cứng hổ Úc với tốc độ 171 chiều dài cơ thể/giây và loài báo cheetah ở tốc độ 96km/h - khoảng 16 độ dài cơ thể/giây.
Loài báo cheetah ở tốc độ 96km/h.
Bọ cánh cứng hổ Úc có tốc độ 171 chiều dài cơ thể/giây, tương đương một người chạy 772km/h.
Kết quả trên được rút ra từ cuộc nghiên cứu của giáo sư Jonathan Wright thuộc Pomona College (Mỹ) với sự hỗ trợ của Samuel Rubin, ĐH Pitzer. Nhóm nghiên cứu của Samuel Rubin đã sử dụng máy quay với tốc độ khung hình cao để ghi lại tốc độ, tần số bước chạy, sự tăng/giảm tốc của loài ve này. 

Cùng với đó, nhóm nghiên cứu còn phát hiện, ve có khả năng chạy trên nền bê-tông với mức nhiệt độ cao (40 - 60 độ C), cao hơn nhiều so với giới hạn chịu đựng của hầu hết loài động vật khác.
Phát hiện loài động vật chạy nhanh nhất thế giới
Phát hiện loài động vật chạy nhanh nhất thế giới
Trở lại phòng thí nghiệm, các chuyên gia bắt đầu phân tích dáng đi và cơ chế động học của loài ve miền Nam California này. Ngoài tốc độ đặc biệt, những chú ve còn cho thấy tần số nhấc chân lên và đặt xuống ở mỗi chân cao - khoảng 135 lần/s. Gia tốc của ve Paratarsotomus macropalpis là 7,2 - 10,1 m/s² (mét trên giây bình phương). 

Samuel Rubin cùng đồng nghiệp vô cùng thích thú trước phát hiện của mình. Rubin cho rằng: "Phát hiện này sẽ truyền cảm hứng để cho ra đời các thiết kế mang tính cách mạng trong lĩnh vực robot hay thiết bị đặc biệt khác". 

Phát hiện loài động vật chạy nhanh nhất thế giới / Lukhachdem Blog
(Nguồn tham khảo: IFscience/Dailymail)

Chủ Nhật, 27 tháng 4, 2014

Video: 7 bí kíp sinh tồn "ai cũng cần phải biết"

Video: 7 bí kíp sinh tồn "ai cũng cần phải biết". Bí kíp nhỏ dưới đây sẽ giúp bạn chủ động hơn khi đối mặt với tình huống khó khăn trong lúc dã ngoại.

Khi đi dã ngoại xa ở trong rừng, núi... chắc hẳn bạn đã gặp một số trường hợp như không có dụng cụ nướng thức ăn, bị muỗi đốt hay mất phương hướng... Những rắc rối đó có thể khiến bạn gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp tục cuộc hành trình. 

Các bí kíp sau đây sẽ giúp bạn chủ động hơn khi đối mặt với những tình huống khó khăn đó.
Video: 7 bí kíp sinh tồn "ai cũng cần phải biết"
Video: 7 bí kíp sinh tồn "ai cũng cần phải biết" / Lukhachdem Blog
Theo: Kenh14.vn

Thứ Ba, 15 tháng 4, 2014

Hình ảnh "Mặt trăng máu" diễn ra trên bầu trời

Mặt trăng sẽ không còn có màu vàng như thường lệ mà thay vào đó là màu đỏ - điều mà nhiều người vẫn gọi đó là hiện tượng "Mặt trăng máu". Hãy cùng xem những hình ảnh mới nhất của hiện tượng này trên bầu trời nước Mỹ...

Như đã đưa tin, vào lúc 2.00 giờ EDT (khoảng 13h theo giờ Việt Nam), bóng tối của Trái đất sẽ bắt đầu bao phủ hoàn toàn Mặt trăng trong khoảng thời gian 60 phút. Lúc này, Mặt trăng sẽ không còn có màu vàng như thường lệ mà thay vào đó là màu đỏ - điều mà nhiều người vẫn gọi đó là hiện tượng "Mặt trăng máu".
Người dân thuộc các khu vực Bắc Mỹ, bờ biển phía Tây Nam Mỹ, Tây Phi và nước Úc sẽ được chứng kiến trọn vẹn hiện tượng thiên văn đáng chú ý nhất trong năm này. Do lệch múi giờ nên ở Việt Nam không có cơ hội chiêm ngưỡng hiện tượng "Mặt trăng máu" độc đáo này.
Diễn biến của nguyệt thực toàn phần - khi Mặt trăng dần dần chuyển sang màu đỏ.
Richard Fuentes đang chuẩn bị thiết bị quan sát hiện tượng nguyệt thực toàn phần màu đỏ tại khu vực đài thiên văn Griffith, Los Angeles (Mỹ).









Hình ảnh "Mặt trăng máu" diễn ra trên bầu trời / Lukhachdem Blog